Gửi tin qua Email
In bài này
Tình hình kinh tế - xã hội nước ta quý I năm 2013

(2013/04/03 20:32:49.415 GMT+7)

Nhìn chung, trong quý I-2013, kinh tế - xã hội nước ta có những chuyển biến tích cực, bám sát các mục tiêu tổng quát mà Nghị quyết Quốc hội đề ra. Tăng trưởng GDP đạt mức cao hơn, lạm phát ở mức thấp hơn so với cùng kỳ năm 2012.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I-2013 ước tính tăng 4,89% so với cùng kỳ năm 2012, cao hơn mức tăng 4,75% của quý I-2012. Tăng trưởng quý I của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 2,24%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung và thấp hơn mức tăng 2,81% của quý I-2012 (nông nghiệp tăng 2,03%, thấp hơn mức 2,37% cùng kỳ năm 2012; lâm nghiệp tăng 5,38%, cao hơn mức 4,97% của cùng kỳ năm 2012; thủy sản tăng 2,28%, thấp hơn mức 4,05% cùng kỳ năm 2012). Tăng trưởng quý I của khu vực công nghiệp và xây dựng là 4,93%, đóng góp 1,98 điểm phần trăm và thấp hơn mức tăng 5,15% cùng kỳ năm 2012 (công nghiệp tăng 4,95%, thấp hơn mức tăng 5,80% cùng kỳ năm 2012 và xây dựng tăng 4,79%, cao hơn mức tăng 0,77% cùng kỳ năm 2012) và khu vực dịch vụ tăng 5,65%, đóng góp 2,60 điểm phần trăm và cao hơn mức tăng 4,99% cùng kỳ.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm 2012 theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp tăng 2,5%; lâm nghiệp tăng 5,8%; thủy sản tăng 2,5%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba (tính theo năm gốc so sánh 2010) tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 10,9%.

Tính chung quý I năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng 5,9% của cùng kỳ năm 2012), trong đó ngành công nghiệp khai khoáng (chiếm 21,3% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp) tăng 2,1% (cùng kỳ năm trước tăng 3,6%); công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 70,9% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 5,4% (cùng kỳ năm trước tăng 5,9%); sản xuất và phân phối điện (chiếm 6,7% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 8,5% (cùng kỳ năm trước tăng 12,5%); cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải (chiếm 1,1% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 9,5% (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%).

Trong 4,9% mức tăng chung của quý I, ngành khai thác đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành chế biến, chế tạo đóng góp 3,8 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Hoạt động dịch vụ

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ba tháng đầu năm ước tính tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2012, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,5%, thấp hơn mức tăng 4,7% cùng kỳ năm trước. 

Vận tải hành khách ba tháng đầu năm nay ước tính tăng 6,8% về khối lượng vận chuyển và tăng 5,9% về khối lượng luân chuyển so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Vận tải đường bộ tăng 7% về vận chuyển và tăng 6,7% về luân chuyển; đường sông tăng 5,3% và tăng 10,7%; đường hàng không giảm 2,2% và tăng 3,4%; đường biển tăng 1,7% và tăng 1,4%; đường sắt giảm 4,4% và giảm 4,7%.

Trong ba tháng đầu năm 2013, số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt trên 1,8 triệu lượt người, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến đến với mục đích du lịch chiếm tỷ trọng lớn (61,3%) nhưng giảm 4,7%; khách đến vì công việc giảm 4,8%. 

Xây dựng, đầu tư phát triển

Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Khu vực nhà nước tăng 9,8%; khu vực ngoài nhà nước tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,7%.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 202,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 29,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực nhà nước 74,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% (vốn từ ngân sách nhà nước đạt 35,2 nghìn tỷ đồng, giảm 4,9%); khu vực ngoài nhà nước 74,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 53 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20-3-2013 đạt 6.034,2 triệu USD, tăng 63,6% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Vốn đăng ký của 191 dự án được cấp phép mới đạt 2.927 triệu USD (giảm 26,3% số dự án và tăng 2,2% số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của 71 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 3.107,2 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I năm 2013 ước tính đạt 2,7 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2012.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 11 tỷ USD, tăng 53,9% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 29,7 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I đạt 31 tỷ USD, tăng 25,1%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 10,4 tỷ USD, tăng 10,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 19,3 tỷ USD, tiếp tục tăng mạnh ở mức 25,6%, chủ yếu do đóng góp của một số mặt hàng gia công lắp ráp như: Điện thoại các loại và linh kiện; điện tử máy tính và linh kiện; đá quý kim loại quý và sản phẩm. 

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 11,3 tỷ USD, tăng 56,1% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 29,2 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, tương đương 4,2 tỷ USD (nếu loại trừ yếu tố giá, nhập khẩu quý I ước đạt 30 tỷ USD, tăng 20,4%). 

Tháng Ba nhập siêu 300 triệu USD, nhưng do hai tháng đầu năm xuất siêu 781 triệu USD nên tính chung quý I-2013 xuất siêu 481 triệu USD, bằng 1,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 3,1 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,6 tỷ USD.

Chỉ số giá 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3-2013 giảm 0,19% so với tháng trước. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm mạnh nhất với 0,53% (lương thực giảm 0,59%; thực phẩm giảm 0,95%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; giao thông giảm 0,25%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại tăng nhẹ, trong đó nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,04%. 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3-2013 tăng 2,39% so với tháng 12-2012 và tăng 6,64% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 6,91% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2013 tăng 2,06% so với quý trước và giảm 5,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 2,19% và giảm 6,92%; hàng lâm nghiệp tăng 1,58% và tăng 7,41%; hàng thủy sản tăng 1,64% và giảm 1,74%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I năm 2013 tăng 0,98% so với quý trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,24% và tăng 2,04%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,69% và tăng 3,04%; điện và phân phối điện tăng 3,79% và tăng 8,73%; nước sạch, nước thải tăng 1,88% và tăng 9,16%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm 2013 giảm 0,12% so với quý trước và giảm 4,32% so với cùng kỳ năm trước. 

Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01-4-2013 là 53,04 triệu người, tăng 251,8 nghìn người so với thời điểm 01-01-2013, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến 01-4-2013 là 47,27 triệu người, tăng 183,6 nghìn người so với thời điểm 01-01-2013, trong đó lao động nam chiếm 53,5%; nữ chiếm 46,5%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I năm 2013 là 2,1%, trong đó khu vực thành thị là 3,4%, khu vực nông thôn là 1,57%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2013 là 3,58%, trong đó khu vực thành thị là 2,54%, khu vực nông thôn là 4%. Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của quý I năm 2013 tăng so với năm 2012 ở cả khu vực thành thị và khu vực nông thôn. 

Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong ba tháng đầu năm 2013 là 2.540 tỷ đồng, bao gồm: 1.211 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.085 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và hơn 244 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. 

Tình trạng thiếu đói trong nông dân tuy vẫn xảy ra nhưng đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 3-2013, cả nước có 45,9 nghìn hộ thiếu đói, giảm 42,7% so với tháng 3-2012, tương ứng với 194,0 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 43,4%. Tính chung ba tháng đầu năm, cả nước có 178,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 737,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 10,9%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 12,2 nghìn tấn lương thực và 8,2 tỷ đồng. 

Giáo dục 

Theo báo cáo từ các địa phương, tại thời điểm đầu năm học 2012 - 2013, cả nước có 13.546 trường mẫu giáo, tăng 402 trường so với năm học trước; 15.496 trường tiểu học, tăng 159 trường; 10.334 trường trung học cơ sở, tăng 101 trường và 2.392 trường trung học phổ thông, tăng 42 trường. Trong năm học này, cả nước có 241,3 nghìn giáo viên mẫu giáo, tăng 38,7% so với năm học 2011 - 2012; giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 834,8 nghìn người, tăng 0,8%, bao gồm: 373,5 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 2%; 312,1 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tương đương năm học trước và 149,2 nghìn giáo viên trung học phổ thông, giảm 0,6%. Tính đến hết tháng Ba năm 2013, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (trong đó 04 tỉnh, thành phố đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2) và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong ba tháng đầu năm, cả nước có gần 9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (9 trường hợp tử vong); 90 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (2 trường hợp tử vong); 31 trường hợp mắc thương hàn; 11,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (4 trường hợp tử vong) và 16 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân.

Trong tháng đã phát hiện thêm 516 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến giữa tháng Ba năm 2013 lên 264,9 nghìn người, trong đó 108,8 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 54,5 nghìn người đã tử vong do AIDS. 

Trong tháng Ba đã xảy ra 6 vụ ngộ độc, làm 245 người bị ngộ độc. Tính chung ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 15 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 487 người bị ngộ độc, trong đó 4 trường hợp tử vong. 

Hoạt động thể thao

Trong thể thao thành tích cao, đoàn thể thao Việt Nam giành được 03 huy chương vàng tại: Giải Thể dục dụng cụ quốc tế Toyota, Giải vô địch Súng hơi châu Á (Trung Quốc) và Giải vô địch Đấu kiếm trẻ châu Á (Thái Lan) cùng 02 huy chương bạc tại: Giải vô địch Đi bộ châu Á (Nhật Bản) và World Cup Thể dục Dụng cụ (Pháp).

Tai nạn giao thông

Trong tháng 03-2013, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 732 vụ tai nạn giao thông, làm chết 653 người và làm bị thương 510 người. So với cùng kỳ năm 2012, số vụ tai nạn giao thông giảm 9,2%; số người chết giảm 13,5%; số người bị thương giảm 7,3%. Tính chung ba tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2.822 vụ tai nạn giao thông, làm chết 2.578 người và làm bị thương 1.811 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 2,8%; số người chết tăng 6,3%; số người bị thương giảm 10,7%. Bình quân một ngày trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người và làm bị thương 20 người. 

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ 

Trong quý I năm nay các cơ quan chức năng đã phát hiện 1.719 vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường, trong đó 797 vụ đã bị xử lý với tổng số tiền phạt trên 10 tỷ đồng, riêng trong tháng Ba đã phát hiện 805 vụ vi phạm, trong đó 421 vụ đã bị xử lý. 

Tình hình cháy, nổ vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong tháng Ba, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 217 vụ cháy, nổ, làm 23 người chết, 22 người bị thương, thiệt hại khoảng 39 tỷ đồng. Trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 635 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 82 người chết và bị thương, thiệt hại ước tính 93 tỷ đồng./.

Theo: Tổng cục Thống kê
Hỗ trợ trực tuyến
Email:
thongtintulieu@gmail.com
Yahoo messeger:

Skype:
 
Copyright © 2005 by Cenit. Cơ quan chủ quản:Viện nghiên cứu thương mại. Email: vnctm@moit.gov.vn - Website: www.viennghiencuuthuongmai.com.vn
Trụ sở chính: 46 Ngô Quyền - Hoàn kiếm - Hà Nội. ĐT: 04.38262721 / Fax: 04.38248279
17 Yết Kiêu - Hai Bà Trưng - Hà Nội. ĐT: 04. 39424134 / Fax: 04. 39422595